Một số giải pháp tăng cường bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam trong tình hình mới
Hiện nay, sức mạnh tổng hợp của quốc gia, thế và lực của ta trên các vùng biển, đảo đã tăng lên nhiều. Thế trận quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân, “thế trận lòng dân” trên biển, đảo không ngừng được củng cố, tăng cường. Các lực lượng quản lý, bảo vệ biển, đảo từng bước được xây dựng, phát triển ngày càng vững mạnh hơn, trong đó Hải quân nhân dân Việt Nam được Đảng, Nhà nước ưu tiên đầu tư hiện đại, có sự trưởng thành, lớn mạnh vượt bậc, đủ sức làm nòng cốt bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc. Bộ đội Hải quân cùng các lực lượng thực thi pháp luật khác trên biển (Cảnh sát biển, Bộ đội Biên phòng, Kiểm ngư, Các hải đội dân quân biển…) không quản ngại khó khăn, gian khổ, hiểm nguy; kiên cường bám trụ nơi “đầu sóng, ngọn gió”; đêm ngày tuần tra, kiểm soát, khẳng định, bảo vệ chủ quyền, giữ bình yên biển, đảo, thực sự là điểm tựa tin cậy cho nhân dân yên tâm vươn khơi bám biển, phát triển kinh tế.
Tuy nhiên, nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc hiện nay vẫn đang đứng trước những khó khăn, thách thức. Tình hình quốc tế, khu vực diễn biến nhanh chóng, phức tạp, khó lường, những nhân tố mới xuất hiện tác động trực tiếp đến tình hình Biển Đông. Cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn và tranh chấp lãnh thổ, chủ quyền biển, đảo giữa các nước trong khu vực diễn ra gay gắt, tiềm ẩn nguy cơ xung đột, mất ổn định. Để tiếp tục thực hiện thắng lợi nghị quyết của Đảng về chiến lược biển đảo với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trước bối cảnh và tình hình mới. Trên lĩnh vực quốc phòng, an ninh, việc bảo vệ chủ quyền biển đảo của Việt Nam diễn ra trong bối cảnh địa chính trị phức tạp, đòi hỏi sự kết hợp giữa các giải pháp truyền thống và phi truyền thống. Trong đó, cần tập trung thực hiện tốt một số giải pháp cơ bản sau:
Một là, tăng cường công tác giáo dục chính trị tư tưởng, nâng cao nhận thức trách nhiệm cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân về nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo.
Đây là giải pháp có vị trí quan trọng hàng đầu, bởi vì nó định hướng nhận thức, tư tưởng, trau dồi tình cảm của cán bộ, đảng viên, nhân dân và toàn bộ hệ thống chính trị về vị trí, vai trò, sức mạnh của biển, ý thức trách nhiệm của các tổ chức, các lực lượng trong đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc. Thực hiện giải pháp này sẽ làm cho mọi người nhận thức rõ biển đảo là một bộ phận lãnh thổ thiêng liêng, bất khả xâm phạm của Tổ quốc, có vai trò quan trọng trong quá trình phát triển của dân tộc. Đây cũng là từng bước xây dựng thế trận lòng dân bảo vệ chủ quyền biển đảo.
Trước hết cần lãnh đạo, chỉ đạo thống nhất, chặt chẽ từ Trung ương tới các địa phương và phối hợp đồng bộ giữa các bộ, ban, ngành, các địa phương để tiến hành. Tập trung giáo dục chủ trương, quan điểm của Đảng về Chiến lược Biển, Chiến lược Bảo vệ Tổ quốc, Luật Biển; các chính sách, pháp luật của Nhà nước về biển, đảo, đi sâu chính sách trong đấu tranh xử lý vấn đề Biển Đông sau khi Tòa Trọng tài quốc tế (PCA) có phán quyết về “đường 9 đoạn”. Chỉ đạo các đài phát thanh, truyền hình Trung ương, địa phương và sử dụng các trang mạng mở nhiều chuyên mục về biển, đảo, tăng thời lượng phát sóng chuyên đề biển đảo quê hương. Tổ chức, xây dựng lực lượng đấu tranh chuyên sâu trên lĩnh vực chính trị, pháp lý. Tổ chức các hội thảo, diễn đàn, mít tinh, tuần hành… hướng về biển, đảo. Trên cơ sở nâng cao nhận thức cho toàn dân, chú trọng tuyên truyền cho nhân dân ven biển, các ngư dân, lực lượng làm nhiệm vụ quản lý, thực thi pháp luật, bảo vệ chủ quyền và khai thác kinh tế biển, đảo để họ nhận thức sâu sắc quan điểm của Đảng, Nhà nước về sự nghiệp bảo vệ biển, đảo.
Mặt khác, kiên quyết đấu tranh với những phần tử cơ hội chính trị lợi dụng vấn đề Biển Đông để kích động, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xuyên tạc chính sách của Đảng và Nhà nước; gây rối an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, đồng thời chia rẽ Cộng đồng ASEAN và 3 nước Đông Dương. Quản lý chặt chẽ các trang mạng xã hội, định hướng tư tưởng cho nhân dân không bị lợi dụng, lôi kéo vào hoạt động bất hợp pháp. Phát huy các cơ quan thông tin đối ngoại, đại diện của Việt Nam ở nước ngoài… kiên quyết đấu tranh phản bác những thông tin, luận điệu phản động, vu cáo, bịa đặt của các thế lực thù địch và xuyên tạc, cực đoan trên báo chí nước ngoài.
Hai là, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân trên biển.
Xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, trước hết là lực lượng Hải quân, Cảnh sát biển, Bộ đội Biên phòng và Dân quân tự vệ biển vững mạnh, có chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu cao, đủ sức làm nòng cốt trong nhiệm vụ quản lý, bảo vệ chủ quyền biển đảo. Thường xuyên giáo dục nâng cao nhận thức, làm cho toàn dân và lực lượng vũ trang nắm chắc, nhất trí cao với chủ trương của Đảng, không nôn nóng, dao động trong cuộc đấu tranh biển, đảo. Từ đó, giúp lực lượng vũ trang xây dựng niềm tin, động cơ, thái độ trách nhiệm, rèn luyện ý chí vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, yên tâm bám đảo, bám biển, gắn bó với đơn vị, trên tinh thần “đơn vị là nhà, biển đảo là quê hương”, chắc tay súng bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển, còn người là còn biển đảo.
Không ngừng nâng cao chất lượng huấn luyện bộ đội, công an, dân quân tự vệ, dự bị động viên. Tăng cường kết hợp giữa huấn luyện với rèn luyện thể lực, nâng cao sức khỏe cho bộ đội, đủ điều kiện hoạt động dài ngày trên biển. Đẩy mạnh công tác nghiên cứu, phát triển nghệ thuật quân sự, an ninh; ứng dụng khoa học công nghệ tiên tiến, xây dựng nền công nghiệp quốc phòng vững mạnh, từng bước đáp ứng nhu cầu nội địa về sản xuất vũ khí, trang bị kỹ thuật cho quân đội, công an và một số lực lượng tham gia hoạt động trên biển. Tổ chức các doanh nghiệp quân đội, công an tham gia phát triển sản xuất, kinh doanh trên hướng biển, đảo, góp phần xây dựng nền quốc phòng toàn dân trên biển.
Ngư dân được xác định là “lực lượng tiên phong” trong việc bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc. Việc ngư dân vươn khơi, bám biển không chỉ là hoạt động kinh tế, mưu sinh, mà còn là hành động thực tế để thực hành quyền làm chủ, giữ vững ngư trường truyền thống, và tăng cường sự hiện diện của quốc gia trên các vùng biển xa. Sự hiện diện của ngư dân trên ngư trường truyền thống góp phần xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân trên biển vững chắc, tạo điểm tựa cho các lực lượng chấp pháp khác.
Ba là, tăng cường đấu tranh ngoại giao và pháp lý để góp phần bảo vệ chủ quyền biển, đảo, cùng các nước Asean và Trung Quốc đẩy nhanh thỏa thuận DOC thành COC.
Đây là giải pháp giữ vị trí, vai trò chủ yếu, là một mặt trận quan trọng góp phần tạo ra môi trường quốc tế thuận lợi cho sự nghiệp bảo vệ chủ quyền biển đảo. Để hiện thực giải pháp này, cần quán triệt sâu sắc đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa dạng hóa, đa phương hóa trong quan hệ đối ngoại. Tham gia có hiệu quả các cơ chế hợp tác trong khuôn khổ diễn đàn ARF, ADMM, ADMM+, đối thoại cấp cao Đông Á (EAS)… nhằm tăng cường xây dựng lòng tin chiến lược, sự tin cậy về chính trị, hạn chế xung đột nhằm tạo ra môi trường hòa bình trong khu vực. Chú trọng quan hệ hợp tác quốc phòng song phương, đa phương với các nước đối tác, đặc biệt là với các nước láng giềng, các nước bạn bè truyền thống, Cộng đồng ASEAN, các nước lớn, các nước có tiềm lực kinh tế, có nền khoa học công nghệ quốc phòng mạnh, trên tinh thần giữ vững quan điểm, đường lối, nguyên tắc chiến lược, nhưng cần linh hoạt, sáng tạo, mềm dẻo trong sách lược.
Tích cực, chủ động tìm kiếm, sưu tầm tài liệu, chứng cứ pháp lý, lịch sử; hoàn thiện hệ thống luật pháp về biển, đảo, nhất là sau khi có phán quyết của Tòa trọng tài quốc tế (PCA), tạo điều kiện để đấu tranh pháp lý thuận lợi. Tổ chức và tham gia các cuộc hội thảo khoa học; diễn đàn, điều tra, khảo sát khoa học chung về biển, đảo với các nước trong khu vực và quốc tế… tranh thủ sự ủng hộ của dư luận, của các nhà khoa học, lịch sử, địa lý và các nước trong khu vực như Cộng đồng ASEAN, cộng đồng quốc tế để lên tiếng ủng hộ ta về tính pháp lý, lịch sử của quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, chống sự áp đặt của nước lớn, đẩy nhanh thỏa thuận DOC sang COC “những nguyên tắc cơ bản ứng xử trên biển Đông”.
Bốn là, đẩy mạnh phát triển, kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội với củng cố, tăng cường quốc phòng, an ninh trên các vùng biển, đảo của Tổ quốc.
Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII) về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đã định hình chiến lược quốc phòng – an ninh biển trong giai đoạn mới. Quan điểm chỉ đạo cốt lõi của Nghị quyết là phát triển bền vững kinh tế biển phải luôn “gắn liền với bảo đảm quốc phòng, an ninh, giữ vững độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ”. Đây là nguyên tắc song hành, đòi hỏi sự phối hợp đồng bộ, không tách rời giữa mục tiêu phát triển kinh tế và nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc.
Mục tiêu chiến lược đặt ra là đến năm 2045, Việt Nam phải trở thành “quốc gia mạnh về biển, giàu từ biển, phát triển bền vững, thịnh vượng, an ninh và an toàn”. Mục tiêu này định hướng cho mọi hoạt động, từ đầu tư kinh tế đến hiện đại hóa lực lượng vũ trang. Phát triển kinh tế biển gắn liền với bảo vệ chủ quyền, khuyến khích và hỗ trợ ngư dân vươn khơi, bám biển để vừa phát triển kinh tế, vừa góp phần bảo vệ chủ quyền quốc gia. Phát triển các ngành nghề làm giàu từ biển như du lịch, khai thác khoáng sản, cảng biển và năng lượng xanh.
Thực hiện dân sự hoá trên biển, khuyến khích nhân dân ra định cư trên các đảo, bộ đội hết nghĩa vụ đăng ký sinh sống lâu dài trên đảo. Đầu tư thích đáng về cơ sở vật chất, tài chính cho việc đóng mới, nâng cấp tàu, thuyền, các trang bị cần thiết cho lực lượng chuyên trách bảo vệ chủ quyền biển đảo. Đồng thời, tiếp tục triển khai có hiệu quả các chiến lược, quy hoạch, đề án, nghị định, chỉ thị của Chính phủ về phát triển hỗ trợ cho ngư dân vay vốn đóng tàu hiện đại, sản xuất đánh bắt hải sản xa bờ; xây dựng các doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ, đội đánh bắt khai thác hải sản vững mạnh, để vừa phát triển kinh tế biển, vừa góp phần tạo ra sức mạnh giữ vững chủ quyền biển, đảo. Tăng cường liên kết, hợp tác với các nước lớn để thăm dò khai thác các tài nguyên trên biển, phát triển du lịch biển, thực hiện việc đan cài lợi ích giữa các nước lớn với Việt Nam, từ đó lôi kéo, tạo sự ủng hộ của các nước lớn trong sự nghiệp bảo vệ chủ quyền biển, đảo của nước ta.
Năm là, phát huy sức mạnh tổng hợp, kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, vùng trời, vùng biển; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước.
Bảo vệ chủ quyền biển, đảo là trách nhiệm và nghĩa vụ của mọi người dân Việt Nam, cho nên phải phát huy sức mạnh tổng hợp toàn dân tộc, dưới sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng, sự quản lý thống nhất của Nhà nước, có phân công, phân nhiệm rõ ràng cho từng cấp, từng lực lượng. Trên cơ sở đó, bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia trên các vùng biển và thềm lục địa của quốc gia; bảo vệ nguồn lợi cho đất nước; bảo vệ tài nguyên, môi trường biển, sự phát triển bền vững của kinh tế biển; duy trì an ninh chính trị, bảo đảm an toàn cho sản xuất, tính mạng và tài sản của Nhà nước và nhân dân; phát hiện, ngăn chặn và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật và xâm phạm chủ quyền trên vùng biển và thềm lục địa của quốc gia là nhiệm vụ của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta.
Việc quản lý, bảo vệ chủ quyền biển, đảo là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng pháp luật của Nhà nước với quá trình kinh tế – xã hội, các hoạt động trên biển, đảo nhằm duy trì và phát triển các mối quan hệ, các hoạt động đó trong trật tự, theo đúng định hướng của Nhà nước trong việc thăm dò, khai thác các tiềm năng của biển, thực thi và bảo vệ chủ quyền, các quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia trên các vùng biển, hải đảo và thềm lục địa của quốc gia phù hợp với luật pháp quốc tế và nguyên tắc ứng xử của khu vực.
Sáu là, xây dựng, vận hành có hiệu quả cơ chế phối hợp các lực lượng trong hoạt động bảo vệ chủ quyền biển đảo; tiếp tục mở rộng và tăng cường hợp tác quốc tế, khu vực và mở rộng hợp tác quốc phòng, an ninh.
Phương châm hành động trong bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc là “dĩ bất biến ứng vạn biến”, “kiên định nguyên tắc chiến lược, linh hoạt về sách lược”. Do vậy, các biện pháp bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia trên các vùng biển, đảo phải được triển khai mạnh mẽ, kiên quyết vì chúng ta có chính nghĩa, song cũng phải hết sức linh hoạt, mềm dẻo, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh, thời điểm cụ thể. Cần xây dựng các quy chế phối hợp tác chiến, huấn luyện và chia sẻ thông tin chi tiết, đồng bộ giữa Hải quân, Cảnh sát biển, Biên phòng, và các lực lượng cứu hộ, cứu nạn, nhằm tăng cường khả năng ứng phó tổng thể trước các mối đe dọa truyền thống và phi truyền thống.
Việt Nam đã chủ động, tích cực tham gia các diễn đàn quốc tế và khu vực, nhất là các hoạt động hợp tác biển trong khuôn khổ ASEAN. Thời gian tới, Việt Nam cần tăng cường quan hệ với các đối tác chiến lược, đối tác toàn diện, các nước có tiềm lực về biển, và các nước có chung lợi ích. Tăng cường diễn tập, tuần tra chung của lực lượng vũ trang trong nước và quốc tế với nhiều quy mô, hình thức khác nhau, theo hướng sát phương án, nhiệm vụ và thực tế diễn biến trên biển; phù hợp với vũ khí, trang bị hiện có và nghệ thuật quân sự Việt Nam. Tăng cường giao lưu, diễn tập Hải quân, Cảnh sát biển, Biên phòng… giữa các nước trong khu vực để tăng thêm hiểu biết, chia sẻ kinh nghiệm, thắt chặt đoàn kết, tạo môi trường hòa bình trong khu vực.
Tiếp tục duy trì và tăng cường vai trò tích cực, chủ động trong các cơ chế ASEAN và các diễn đàn quốc tế. Việc thúc đẩy đàm phán và ký kết Bộ Quy tắc ứng xử trên Biển Đông (COC) là nhiệm vụ trọng tâm để thiết lập trật tự pháp lý và duy trì môi trường hòa bình, ổn định cho phát triển. Tăng cường hợp tác song phương với các đối tác chiến lược và các nước có chung lợi ích trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền và tuân thủ luật pháp quốc tế.
Thấu triệt tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Ngày trước ta chỉ có đêm và rừng. Ngày nay ta có ngày, có trời, có biển. Bờ biển ta dài, tươi đẹp, ta phải biết giữ gìn lấy nó”; đứng trước những khó khăn, thách thức lớn trong nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc hiện nay, đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta phải chung sức, đồng lòng, phát huy cao độ sức mạnh tổng hợp, quyết tâm đẩy mạnh phát triển kinh tế biển, nhưng cũng không một giây phút lơ là nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc./.
Tài liệu tham khảo:
- Ban Chấp hành Trung ương – Nghị quyết số 36-NQ/TW, ngày 22/10/2018 Về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, H. 2018.
- Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập I, Nxb CTQGST, H. 2021.
- Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập II, Nxb CTQGST, H. 2021.

