Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về “dĩ bất biến, ứng vạn biến” trong đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển đảo hiện nay
“Dĩ bất biến, ứng vạn biến” là tư tưởng sáng tạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh được Đảng ta vận dụng linh hoạt, trở thành phương châm hành động trong nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Trong bối cảnh tình hình thế giới, nhất là khu vực biển Đông diễn biến phức tạp, khó lường, nhiệm vụ đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc đặt ra những yêu cầu ngày càng cao về tư duy chiến lược và phương thức hành động. Việc quán triệt và vận dụng phương châm “dĩ bất biến, ứng vạn biến” trong đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển đảo thể hiện sâu sắc bản lĩnh chính trị, sự kiên định về mục tiêu, nguyên tắc, đồng thời linh hoạt, sáng tạo trong xử lý các tình huống thực tiễn, góp phần bảo vệ chủ quyền biển, đảo, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về “Dĩ bất biến, ứng vạn biến” và sự vận dụng của Đảng ta trong nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
“Dĩ bất biến, ứng vạn biến” là câu nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong cuộc trao đổi với cụ Huỳnh Thúc Kháng trước khi Người sang Pháp dự Hội nghị Fontainebleau (tháng 5/1946). Câu nói đó đã trở thành một trong những quan điểm chỉ đạo xuyên suốt của cách mạng Việt Nam được Đảng ta vận dụng linh hoạt, sáng tạo trở thành phương châm bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tiến trình cách mạng, đưa cách mạng Việt Nam vượt qua khó khăn, thử thách, đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.
“Dĩ bất biến” theo tư tưởng Hồ Chí Minh là “Chủ quyền, lợi ích quốc gia dân tộc” là bất biến. “Ứng vạn biến” là vận dụng linh hoạt về sách lược để bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền, lợi ích quốc gia dân tộc. Hiệp định Sơ bộ ngày 06/3/1946 và Tạm ước ngày 14/9/1946 được xem là sự sáng tạo, mẫu mực về sách lược “ứng vạn biến” trên nguyên tắc thực hiện mục tiêu “bất biến” là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, với mục tiêu “thà hy sinh tất cả, nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”, “nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một” là cơ sở cho Đảng hoạch định đường lối vừa kháng chiến, vừa kiến quốc; kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ, dựa vào sức mình là chính… lãnh đạo cả nước hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.
Chủ tịch Hồ Chí Minh từng thay mặt quốc gia Việt Nam, tuyên bố “Nhân dân chúng tôi thành thực mong muốn hòa bình. Nhưng nhân dân chúng tôi cũng kiên quyết chiến đấu đến cùng để bảo vệ những quyền thiêng liêng nhất: toàn vẹn lãnh thổ cho Tổ quốc và độc lập cho đất nước”[1]; toàn thể dân tộc Việt Nam “quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải” để giữ vững quyền tự do, độc lập. Cái “vạn biến” là cách ứng xử của ta phải linh hoạt, khôn khéo trong đấu tranh bảo vệ Tổ quốc theo đúng tinh thần: “Mục đích bất di bất dịch của ta vẫn là hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ. Nguyên tắc của ta thì phải vững chắc, nhưng sách lược của ta thì linh hoạt. Các công tác phải phối hợp và liên hệ với nhau, bộ phận phối hợp với toàn cục”[2].
Bước vào thời kỳ đổi mới, bằng tư duy khoa học, Đảng ta đã vận dụng sáng tạo phương châm “Dĩ bất biến, ứng vạn biến” vào thực tiễn công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đã đem lại nhiều thành tựu lớn. Kế thừa, phát triển quan điểm này trong Nghị Quyết của Đảng qua các thời kỳ cách mạng. Nghị quyết Trung ương 8 Khóa XIII của Đảng (nghị quyết 44) về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới” đã chỉ rõ: Thực hiện phương châm “dĩ bất biến ứng vạn biến”, lợi ích quốc gia – dân tộc là bất biến; kiên định về nguyên tắc, mục tiêu chiến lược, linh hoạt về sách lược. Đại hội XIV của Đảng – Đại hội của hành động đã hiện thực hóa phương châm trên với nội hàm “Bảo đảm và bảo vệ cao nhất lợi ích quốc gia – dân tộc, kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc…”[3]. Trong đó mục tiêu chiến lược được Đảng ta xác định là kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội – con đường tất yếu của cách mạng Việt Nam. Đây là quan điểm của Đảng, là sự lựa chọn duy nhất đúng, đáp ứng đòi hỏi và nguyện vọng của dân tộc, nhân dân Việt Nam, phù hợp với xu thế phát triển của thời đại.
Trong bối cảnh tình hình thế giới, khu vực và trong nước có cả thuận lợi, thời cơ và khó khăn, thách thức đan xen, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là quan điểm nhất quán, là mục tiêu “bất biến”, làm cơ sở “gốc” cho “ứng vạn biến” những sách lược đối nội, đối ngoại linh hoạt, sáng tạo, mềm dẻo, nhằm tăng cường quốc phòng, an ninh, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa thời kỳ mới. Vận dụng phương châm “Dĩ bất biến, ứng vạn biến” trong nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa không chỉ “đúng” mà còn phải “khéo’’; không chỉ là lập trường, quan điểm mà còn là nghệ thuật, mưu lược; sự kết hợp hài hòa giữa giữ vững nguyên tắc chiến lược với linh hoạt về sách lược, giữa phát huy truyền thống yêu nước của dân tộc với vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào thực tiễn nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, tạo nên tính độc đáo của Cách mạng Việt Nam. “Dĩ bất biến, ứng vạn biến” trở thành phương châm chỉ đạo nhận thức và hành động của Đảng, Nhân dân ta có giá trị to lớn, đã và đang tiếp tục soi sáng nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay.
Xác định mục tiêu phát triển đất nước trong giai đoạn mới, Báo cáo Chính trị tại Đại hội XIV của Đảng chỉ rõ “Giữ vững môi trường hoà bình, ổn định; phát triển nhanh, bền vững đất nước và bảo vệ vững chắc Tổ quốc; cải thiện và nâng cao toàn diện đời sống nhân dân; tự chủ chiến lược, tự cường, tự tin, tiến mạnh trong kỷ nguyên mới của dân tộc…”. Trong đó “Tự chủ chiến lược” là đỉnh cao của “ứng vạn biến” trong nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay. “Tự chủ chiến lược” là biểu hiện ở trình độ cao của tư duy độc lập, tự chủ, thể hiện khả năng tự xác định lợi ích quốc gia – dân tộc, tự hoạch định đường lối, chính sách và tự quyết định phương thức hành động trong mọi tình huống, không bị lệ thuộc hay chi phối bởi các yếu tố bên ngoài. Tự chủ chiến lược không đồng nghĩa với khép kín hay đối đầu, mà là chủ động hội nhập nhưng giữ vững bản lĩnh; hợp tác nhưng không lệ thuộc; kiên định nguyên tắc nhưng linh hoạt trong sách lược. Đây chính là phương thức để Việt Nam xử lý hài hòa giữa bảo vệ chủ quyền và duy trì môi trường hòa bình.
Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về “Dĩ bất biến, ứng vạn biến” trong đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo hiện nay
Biển, đảo Việt Nam có vị trí, vai trò và tầm quan trọng đặc biệt đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta. Biển, đảo là bộ phận cấu thành chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc, là không gian sinh tồn, cửa ngõ giao lưu quốc tế, gắn bó mật thiết với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: Ngày trước ta chỉ có đêm và rừng, ngày nay ta có ngày, có trời, có biển. Bờ biển ta dài, tươi đẹp, ta phải biết giữ gìn lấy nó. Khẳng định của Người không chỉ thôi thúc cả dân tộc quyết tâm đánh bại đế quốc và tay sai, giải phóng dân tộc mà còn đặt trách nhiệm cho các thế hệ người Việt Nam hiện nay, nhất là lực lượng Hải quân phải tích cực, chủ động đấu tranh và bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc.
Mục tiêu bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ chủ quyền biển đảo là bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ và các lợi ích hợp pháp trên Biển Đông, đồng thời giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng và phát triển đất nước. Nội dung này được hiện thực hóa trong Nghị quyết 44 về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới; nghị quyết 36 về “Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”, Luật biển Việt Nam năm 2012 và các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về biển, đảo thể hiện ở nghị quyết của các kỳ Đại hội Đảng. Văn kiện Đại hội XIV Đảng ta xác định “Kiên quyết, kiên trì bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán, lợi ích hợp pháp, chính đáng của Việt Nam; thúc đẩy giải quyết các vấn đề trên biển bằng các biện pháp hoà bình, tăng cường hợp tác quốc tế, bảo đảm an ninh, an toàn, tự do hàng hải và hàng không ở Biển Đông trên cơ sở tôn trọng và tuân thủ luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982”[4]. Đây là quan điểm, chủ trương thể hiện định hướng chiến lược để toàn Ðảng, toàn dân và toàn quân tập trung triển khai thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ quốc phòng, bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc.
Quán triệt sâu sắc lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng, Nhà nước ta luôn quan tâm, làm tốt nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc. Vận dụng phương châm “dĩ bất biến, ứng vạn biến” về bảo vệ Tổ quốc của Đảng vào đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển đảo hiện nay, trước hết, chúng ta cần thấm nhuần quan điểm có tính nguyên tắc – chủ quyền biển, đảo là chủ quyền quốc gia – là thiêng liêng, bất khả xâm phạm, là cái “bất biến”, với mục tiêu cao nhất là giữ vững chủ quyền, môi trường hòa bình, ổn định trên biển. Đồng thời, phải “ứng vạn biến” linh hoạt về đối sách để đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo theo đúng pháp luật Việt Nam và luật pháp quốc tế.
Trong bối cảnh Biển Đông là khu vực có sự đan xen lợi ích phức tạp giữa nhiều quốc gia, vận dụng quan điểm “tự chủ chiến lược” theo nghị quyết Đại hội XIV của Đảng là cơ sở để hiện thực hóa vận dụng phương châm “dĩ bất biến, ứng vạn biến” trong bảo vệ Tổ quốc vào đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo; đó là tự chủ về quan điểm và đối sách, sự vận dụng linh hoạt chính sách “bốn không” trong đối ngoại quốc phòng; tự chủ trong xây dựng thế trận, tiềm lực và lực lượng quốc phòng – an ninh trên biển; tự chủ trong phát triển kinh tế biển gắn với bảo vệ chủ quyền biển đảo của Tổ quốc; kiên trì giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế; kiên định lập trường nhất quán: chủ quyền biển, đảo là thiêng liêng, bất khả xâm phạm; mọi hành vi xâm phạm đều phải được đấu tranh kiên quyết, kiên trì bằng các biện pháp phù hợp.
Tuy nhiên, điểm nổi bật trong tư duy của Đảng ta “ứng vạn biến” là không tuyệt đối hóa một biện pháp nào, mà vận dụng tổng hợp, linh hoạt các công cụ như ngoại giao, pháp lý, tuyên truyền, thực địa để đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo. Thực tiễn cho thấy, trong các tình huống phức tạp trên Biển Đông, Việt Nam luôn xử lý một cách bình tĩnh, kiềm chế nhưng kiên quyết, bảo đảm không để xảy ra xung đột, đồng thời không làm phương hại đến chủ quyền. Điều này thể hiện rõ năng lực tự chủ trong hoạch định đối sách: không bị cuốn theo sức ép bên ngoài, không hành động theo cảm tính, mà dựa trên tính toán chiến lược dài hạn, đặt lợi ích quốc gia – dân tộc lên trên hết, trước hết.
Đảng ta đã kiên định đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo bằng biện pháp “hòa bình”, bằng sức mạnh tổng hợp: đấu tranh chính trị, ngoại giao, chứng cứ pháp lý, lịch sử. Kiên quyết, kiên trì, đấu tranh, nhưng cũng cần giải quyết tốt các mối quan hệ. Trong đó, coi trọng quan hệ với các nước, nhất là với Trung Quốc trong khuôn khổ hợp tác, đối tác chiến lược toàn diện, hướng tới xây dựng cộng đồng chia sẻ tương lai, giữ hòa hiếu, hòa khí, xây dựng tình đoàn kết hữu nghị và thực hiện các cam kết đã ký, đây là sự linh hoạt trong việc vận dụng phương châm “Dĩ bất biến, ứng vạn biến” trong đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc hiện nay.
Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về “Dĩ bất biến, ứng vạn biến” trong đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo hiện nay, cần làm tốt một số giải pháp sau:
Một là, tăng cường giáo dục, nâng cao nhận thức cho các lực lượng về vận dụng phương châm “dĩ bất biến, ứng vạn biến” trong đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển đảo của Tổ quốc hiện nay.
Tăng cường giáo dục, nâng cao nhận thức cho các lực lượng, nhất là lực lượng hải quân và các lực lượng trực tiếp bảo vệ chủ quyền biển đảo kiên định phương châm “dĩ bất biến, ứng vạn biến”, luôn nhận thức sâu sắc “giữ vững chủ quyền biển đảo, môi trường hòa bình, ổn định trên biển” là bất biến, nhưng “ứng vạn biến” mền dẻo, linh hoạt về đối sách sách trong bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc.
Để nhận thức tốt nội dung trên cần tăng cường bồi dưỡng, giáo dục nâng cao nhận thức cho các lực lượng nội dung Nghị quyết 44 về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới, Nghị quyết 36 của Đảng về “Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”. Nhất là những điểm mới trong văn kiện Đại hội XIV của Đảng về bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ chủ quyền biển đảo. Quán triệt sâu sắc Quan điểm của Việt Nam trong xử lý các vấn đề đối ngoại nói chung và tranh chấp tại Biển Đông nói riêng là luôn đặt lợi ích quốc gia và lợi ích dân tộc lên trên hết, trước hết, mềm dẻo nhưng không nhân nhượng, không thỏa hiệp.
Giáo dục cho các lực lượng nắm chắc lập trường của Việt Nam về chủ trương giải quyết các tranh chấp ở Biển Đông thông qua biện pháp hoà bình trên tinh thần hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau, tuân thủ luật pháp quốc tế. Thực hiện tuyên bố về ứng xử của các bên ở biển Đông (DOC); duy trì hòa bình, ổn định trên biển, không làm phức tạp hóa tình hình, không có hành động vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực. Đảm bảo cho các lực lượng có hiểu biết sâu sắc về đối sách của Đảng và Nhà nước ta về vấn đề Biển Đông để có cơ sở khoa học đưa ra những luận cứ sắc bén đấu tranh làm thất bại âm mưu của các thế lực thù địch chống phá Đảng, Nhà nước ta về chủ quyền biển, đảo của Việt Nam.
Chú trọng giáo dục nâng cao nhận thức cho các lực lượng về những quy định pháp lý bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Việt Nam như Luật Biển Việt Nam năm 2012, Công ước quốc tế về Luật Biển năm 1982. Những chứng cứ pháp lý và bằng chứng lịch sử khẳng định chủ quyền của Việt Nam với hai Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa như: Hoàng Sa và Trường Sa được ghi chép trong một số thư tịch cổ và được thể hiện trong các châu bản (triều đình nhà Nguyễn); Đại Nam nhất thống toàn đồ, bản đồ Việt Nam thời Nguyễn năm 1838, đã vẽ “Hoàng Sa”, “Vạn lý Trường Sa” thuộc lãnh thổ Việt Nam. An Nam Đại quốc họa đồ trong cuốn Từ điển La tinh – Việt Nam của Giám mục Jean Louis Taberd xuất bản năm 1838, khẳng định Cát Vàng (Hoàng Sa) là Paracels và nằm trong vùng biển Việt Nam. Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ (tạm dịch: Bản đồ địa dư các tỉnh của triều đình nhà Thanh) xuất bản năm 1904 chỉ rõ lãnh thổ của Trung Quốc chỉ giới hạn về phía đông là đảo Đài Loan, phía nam là đảo Hải Nam. Bia chủ quyền Hoàng Sa của Việt Nam thời Pháp thuộc dựng năm 1938 tại quần đảo Hoàng Sa, khẳng định chủ quyền của Việt Nam liên tục từ năm 1816 (niên hiệu Gia Long thứ 14) thuộc chủ quyền của Việt Nam cho đến thời điểm dựng bia năm 1938 (thời Pháp thuộc). Để khẳng định chủ quyền biển đảo của Việt Nam là tuyệt đối, nhất là đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Hai là, vận dụng tốt phương châm “dĩ bất biến, ứng vạn biến” vào xác định đối tác, đối tượng trong đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển đảo của Tổ quốc.
Trên cơ sở lợi ích quốc gia dân tộc là trên hết, trước hết, chủ quyền biển đảo của Tổ quốc là thiêng liêng “bất biến” bất khả xâm phạm, phải linh hoạt trong xác định và nhận diện rõ đối tác, đối tượng, cần có cách ứng xử khôn khéo, linh hoạt, tùy thời điểm, tình thế, tùy từng đối tác, đối tượng cụ thể, vừa hợp tác, vừa đấu tranh bằng các biện pháp phù hợp. Hợp tác nhưng vẫn giữ độc lập, chủ quyền; đấu tranh nhưng vẫn phải bảo đảm duy trì cục diện ổn định – phát triển. Quán triệt sâu sắc quan điểm, đối sách theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng đã xác định “Củng cố, tăng cường sức mạnh quốc phòng, an ninh; kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc”[5] vào đấu tranh có hiệu quả với đối tượng xâm phạm chủ quyền biển đảo, nhất là khu vực quần đảo Trường Sa, giữ vững chủ quyền lãnh thổ, bảo đảm lợi ích quốc gia – dân tộc, xây dựng vùng biển hòa bình, ổn định để phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Phát huy sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị, đẩy mạnh đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, lợi dụng vấn đề chủ quyền biển, đảo chống phá Đảng, Nhà nước ta nhất là trên không gian mạng. Hiện nay các thế lực thù địch lợi dụng mạng xã hội một cách tinh vi thông qua hoạt động của các website, thư điện tử, trang mạng facebook, Zalo và các trang mạng khác với hình thức mở diễn đàn với tên gọi khác nhau, như: “đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo”, “liêm chính”, “cứu quốc”, “hội những người Việt Nam yêu nước”, “hãy vì tự do, dân chủ”, phát triển cái gọi là “xã hội dân sự” cùng các tổ chức, hội nhóm bất hợp pháp, cấu kết với những cán bộ, đảng viên có biểu hiện tha hóa, biến chất nhằm lôi kéo, mua chuộc, tạo dựng ngọn cờ tập hợp lực lượng chống phá từ bên trong gây nhiễu thông tin trên không gian mạng nhằm kích động, lôi kéo, tạo chú ý của dư luận, suyên tạc về chủ quyền biển, đảo của Việt Nam bằng thủ đoạn đăng tải các bài viết, hình ảnh, video sai sự thật về tình hình Biển Đông.
Vì vậy trên cơ sở vận dụng phương châm “dĩ bất biến, ứng vạn biến” về bảo vệ Tổ quốc vào nhận diện và đấu tranh phản bác âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng tình hình phức tạp trên biển, đảo để chống phá Đảng và nhà nước ta, xác định rõ đối tác, đối tượng, giữ vững an ninh chính trị và trật tự, an toàn xã hội, chủ động nắm chắc và xử lý tốt các tình huống từ khi mới phát sinh, không để Tổ quốc bị bất ngờ từ hướng biển.
Ba là, vận dụng tốt phương châm “dĩ bất biến, ứng vạn biến” vào thực hiện tốt nhiệm vụ đối ngoại quốc phòng của Hải quân hiện nay.
Đối ngoại theo văn kiện Đại hội XIV của Đảng được xác định là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên, tiếp tục phát huy vai trò tiên phong của đối ngoại, phối hợp chặt chẽ với quốc phòng, an ninh, các ngành, các cấp, các địa phương chủ động ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột, tạo lập và giữ vững môi trường hoà bình, ổn định, bảo vệ vững chắc Tổ quốc; tranh thủ các nguồn lực và điều kiện thuận lợi bên ngoài cho sự phát triển đất nước. “Dĩ bất biến, ứng vạn biến” là bản sắc ngoại giao tiêu biểu của Việt Nam. Tính bất biến của bản sắc ngoại giao Việt Nam được thể hiện đậm nét trong đường lối đối ngoại của Đảng, trên cơ sở lợi ích quốc gia dân tộc là bất biến vận dụng trong quan hệ đối ngoại quốc phòng, hiện thực hóa thông qua chính sách đối ngoại quốc phòng “4 không”: Không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế. Trên cơ sở đó hiện thực hóa đường lối đối ngoại theo Nghị Quyết Đại hội XIV của Đảng “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, tự cường, hoà bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ đối ngoại; phát triển đối ngoại trong kỷ nguyên mới, tương xứng với tầm vóc lịch sử, văn hoá và vị thế của đất nước…”[6]. Việt Nam đã trở thành thành viên của nhiều tổ chức thế giới và khu vực; tham gia nhiều hiệp ước quan trọng vì sự phát triển và tiến bộ chung trong khu vực và thế giới. Tất cả là nhằm tranh thủ cơ hội thuận lợi để phát triển kinh tế – xã hội, từng bước củng cố và tăng cường tiềm lực quốc phòng, quân sự để bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Những thay đổi, điều chỉnh đó đã tạo cho Việt Nam một sức mạnh đối ngoại mềm dẻo, được các nước trên thế giới đánh giá cao.
Quán triệt sâu sắc và vận dụng linh hoạt “ứng vạn biến” trong đối ngoại quốc phòng hải quân, tạo sức mạnh bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc, Hải quân Nhân dân Việt Nam tích cực tham gia các hoạt động đối ngoại quốc phòng với hải quân các nước để tăng cường hợp tác, tranh thủ thời cơ và xu thế hợp tác phát triển để xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân trên biển; trong đó cần tích cực, chủ động tham gia các hoạt động giao lưu quốc tế như tuần tra chung và giao lưu với Hải quân các nước trong khu vực và trên thế giới, trọng tâm là các nước láng giềng và các nước trong khu vực như Trung Quốc, Thái Lan, Campuchia. Duy trì tốt mối quan hệ hợp tác, hữu nghị với các nước bạn bè truyền thống như: Nga; Trung Quốc; Ấn độ… Mở rộng phát triển quan hệ với Hải quân các nước trong khối ASEAN và Hải quân các nước có liên quan đến an ninh khu vực như: Mỹ, Pháp, Nhật…Góp phần giữ vững môi trường hòa bình, ổn định trên biển, qua đó tăng cường sự hiểu biết, xây dựng lòng tin chiến lược với các đối tác, các quốc gia trong khu vực và trên thế giới.
Kết hợp hoạt động đối ngoại quốc phòng với đẩy mạnh đấu tranh ngoại giao và pháp lý để bảo vệ chủ quyền biển đảo trên cơ sở giữ vững cái “bất biến” là chủ quyền quốc gia dân tộc và môi trường hòa bình ổn định trên biển, chủ động tham gia các cơ chế khu vực và quốc tế như ASEAN. Thúc đẩy xây dựng Bộ Quy tắc ứng xử trên Biển Đông (COC). Sử dụng linh hoạt các công cụ pháp lý quốc tế để bảo vệ quyền lợi chính đáng của Việt Nam trên các vùng biển, đảo. Tăng cường tranh thủ sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế để bảo vệ chủ quyền biển đảo của Tổ quốc.
Bốn là, làm tốt công tác truyền thụ kinh nghiệm về vận dụng phương châm “dĩ bất biến, ứng vạn biến” trong thực tiễn nhiệm vụ đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển đảo của Tổ quốc.
Việc vận dụng phương châm “dĩ bất biến, ứng vạn biến” trong thực tiễn nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển đảo của Tổ quốc là trách nhiệm của nhiều tổ chức, lực lượng, với nhiều hình thức, biện pháp, phương pháp khác nhau. Tuy nhiên Hải quân nhân dân Việt Nam vẫn là lực lượng nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ này. Giá trị mang lại trong vận dụng phương châm này là kết quả của quá trình tích lũy kinh nghiệm trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển đảo của lớp lớp thế hệ cán bộ, chiến sĩ công tác trong quân chủng Hải quân qua các thời kỳ, là sự kết tinh của những giá trị truyền thống, những chiến công tiêu biểu của Hải quân Nhân dân Việt Nam.
Trong bối cảnh tình hình biển, đảo diễn biến nhanh chóng, phức tạp, khó dự báo, việc vận dụng hiệu quả phương châm “dĩ bất biến, ứng vạn biến” không chỉ đòi hỏi bản lĩnh chính trị vững vàng mà còn cần sự tích lũy, kế thừa và phát triển kinh nghiệm thực tiễn. Đây là sự kết tinh của quá trình lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng và cấp ủy chỉ huy các cấp trong Quân chủng, gắn liền với thực tiễn đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển đảo qua các thời kỳ. Đó là sự thống nhất giữa kiên định mục tiêu, nguyên tắc chiến lược với sự linh hoạt, sáng tạo trong phương pháp, cách thức xử lý tình huống cụ thể. Do đó, công tác truyền thụ kinh nghiệm không đơn thuần là truyền đạt kiến thức, mà phải là quá trình chuyển hóa những bài học thực tiễn thành năng lực tư duy và hành động cho cán bộ, chiến sĩ. Vì vậy, làm tốt công tác truyền thụ kinh nghiệm trở thành một nội dung có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, góp phần nâng cao chất lượng tổng hợp và khả năng sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu của Quân chủng Hải quân hiện nay.
Để làm tốt công tác truyền thụ kinh nghiệm về vận dụng phương châm “dĩ bất biến, ứng vạn biến” trong thực tiễn nhiệm vụ đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển đảo của Quân chủng Hải quân hiện nay, cần đẩy mạnh tổng kết thực tiễn, rút ra bài học kinh nghiệm có giá trị lý luận và thực tiễn cao. Các cơ quan, đơn vị trong Quân chủng Hải quân cần thường xuyên tổ chức tổng kết các tình huống đã xử lý trên biển, từ những va chạm nhỏ đến các vấn đề phức tạp liên quan đến chủ quyền. Việc tổng kết phải bảo đảm khách quan, toàn diện, làm rõ những yếu tố “bất biến” đã được giữ vững và những biện pháp “ứng biến” đã vận dụng hiệu quả. Trên cơ sở đó, xây dựng hệ thống bài học kinh nghiệm mang tính chuẩn mực, có thể vận dụng linh hoạt trong các tình huống tương tự.
Đổi mới nội dung, hình thức và phương pháp truyền thụ kinh nghiệm theo hướng sát thực tiễn, dễ tiếp thu, dễ vận dụng. Không chỉ dừng lại ở giảng dạy lý thuyết, cần tăng cường các hình thức như tọa đàm, diễn tập tình huống, mô phỏng thực tế, trao đổi kinh nghiệm giữa các lực lượng. Nội dung truyền thụ phải gắn chặt với các tình huống cụ thể trên biển, phản ánh đúng đặc điểm đối tượng, địa bàn, môi trường tác chiến. Đồng thời, chú trọng phát triển tư duy độc lập, khả năng phân tích, đánh giá và xử trí linh hoạt của người học, tránh lối truyền đạt áp đặt, máy móc.
Bên cạnh đó cần phát huy tốt vai trò của đội ngũ cán bộ có kinh nghiệm thực tiễn trong công tác truyền thụ. Những cán bộ đã trực tiếp tham gia xử lý các tình huống phức tạp trên biển chính là nguồn tri thức sống động, có giá trị cao. Cần có cơ chế để họ tham gia giảng dạy, huấn luyện, chia sẻ kinh nghiệm, qua đó giúp thế hệ cán bộ, chiến sĩ trẻ hiểu rõ hơn về cách thức vận dụng phương châm “dĩ bất biến, ứng vạn biến” trong những hoàn cảnh cụ thể. Tích cực ứng dụng mạnh mẽ khoa học – công nghệ trong truyền thụ kinh nghiệm. Việc xây dựng các hệ thống mô phỏng, cơ sở dữ liệu tình huống, thư viện số về biển đảo sẽ giúp việc truyền thụ trở nên trực quan, sinh động và hiệu quả hơn. Đồng thời, tạo điều kiện để chia sẻ kinh nghiệm giữa các lực lượng, đơn vị một cách nhanh chóng, kịp thời. Đưa các bài học kinh nghiệm vào nội dung huấn luyện, xây dựng các tình huống giả định sát thực tế để cán bộ, chiến sĩ thực hành vận dụng. Kết hợp chặt chẽ giữa kinh nghiệm thực tiễn với cơ sở lý luận, tạo nên sự thống nhất giữa “biết” và “làm”. Thông qua đó, cán bộ, chiến sĩ hình thành bản lĩnh, kỹ năng xử trí linh hoạt, đồng thời tiếp tục bổ sung, hoàn thiện kinh nghiệm vận dụng phương châm “dĩ bất biến, ứng vạn biến” trong thực tiễn nhiệm vụ đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển đảo của Tổ quốc hiện nay.
Như vậy, “dĩ bất biến, ứng vạn biến” trở thành phương châm chỉ đạo sâu sắc, thể hiện bản lĩnh, trí tuệ và nghệ thuật lãnh đạo của Đảng trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Vận dụng phương châm này vào đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo hiện nay có ý nghĩa lý luận và thực tiễn đặc biệt quan trọng, nhất là trong bối cảnh tình hình thế giới diễn biến khó lường, tranh chấp ở khu vực biển Biển Đông ngày càng phức tạp. Để vận dụng tốt phương châm này vào đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển đảo của Tổ quốc cần thực hiện đồng bộ các giải pháp trên góp phần giữ vững ổn định chính trị, củng cố niềm tin của nhân dân; nâng cao vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế, nâng cao hiệu quả quản lý, bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc./.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Bộ Quốc phòng (2019), Sách trắng Quốc phòng Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
- Ban Tuyên giáo Trung ương Đảng (2023), Tài liệu học tập các văn kiện Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII (Dùng cho cán bộ, đảng viên ở cơ sở), Hà Nội.
- Đảng Cộng Sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb CTQGST, Hà Nội, Tập I, Tập II.
- Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2015
- Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 8, Nxb Chính trị quốc gia, Hà nội, 2015
- Tổng Cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam, Một số giải pháp cơ bản đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong Quân đội hiện nay, Tài liệu bổ trợ học tập Chính trị năm 2021, Nxb QĐND, Hà Nội.
[1] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2015, tr. 522
[2] Sđd, Tập 8, tr. 555
[3] Đảng Cộng Sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb CTQGST, Hà Nội, Tập I, tr.113.
[4] Đảng Cộng Sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb CTQGST, Hà Nội, Tập I, tr.118.
[5] Đảng Cộng Sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb CTQGST, Hà Nội, Tập II, tr.283.
[6] Đảng Cộng Sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb CTQGST, Hà Nội, Tập I, tr.117
Thượng tá, Thạc sĩ Mai Huy Đông (Học viện Hải quân) – Thượng tá, TS Nguyễn Hữu Cần (Học viện Hải quân)