Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thủy sản sắp có hiệu lực, những điểm cần chú ý

Tạp chí Biển Việt Nam - Ngày 18/8 tới đây, Nghị định số 246/2026/NĐ-CP của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thủy sản sẽ chính thức có hiệu lực thi hành. Thay thế hoàn toàn quy định cũ, Nghị định mới với khung pháp lý chặt chẽ, chế tài nghiêm khắc sẽ góp phần tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước, tăng cường xử lý hành vi khai thác hải sản bất hợp pháp (IUU).
Nghị định mới với khung pháp lý chặt chẽ, chế tài nghiêm khắc sẽ góp phần tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước, khắc phục triệt để, xử lý tận gốc hành vi khai thác hải sản bất hợp pháp (IUU).

Nâng mức phạt hành chính, siết chặt quy định vận hành hệ thống VMS

Điểm cốt lõi đầu tiên trong Nghị định 246/2026/NĐ-CP là sự gia tăng vượt trội về mức phạt tiền cùng việc làm rõ trách nhiệm pháp lý độc lập giữa chủ thể tham gia khai thác. Mức phạt tiền tối đa đối với một hành vi vi phạm hành chính của cá nhân trong lĩnh vực thủy sản hiện đã nâng lên tới 1 tỷ đồng, trong khi mức phạt tổ chức vi phạm lên đến 2 tỷ đồng.

Đặc biệt, tại Điều 5, Nghị định phân định rất rõ ràng trách nhiệm pháp lý giữa “bờ” và “biển”. Cụ thể, trường hợp chủ tàu không đồng thời là thuyền trưởng, mỗi chủ thể chịu trách nhiệm đối với hành vi vi phạm thuộc phạm vi trách nhiệm của mình. Chủ tàu chịu trách nhiệm về tính pháp lý, trang thiết bị của tàu như giấy phép, đăng kiểm, lắp đặt hệ thống giám sát hành trình tàu cá (VMS); trong khi thuyền trưởng chịu trách nhiệm hoàn toàn về vận hành, điều khiển tàu trên biển (hải trình, nhật ký đánh bắt, duy trì tín hiệu VMS). Sự phân định rạch ròi này giúp chấm dứt tình trạng đùn đẩy trách nhiệm hoặc phạt oan khi xảy ra vi phạm.

Ngoài ra, nhằm giải quyết dứt điểm “điểm nóng” về VMS, Điều 21 và Điều 37 của Nghị định cũng quy định những chế tài cực kỳ nghiêm khắc. Đối với chủ tàu cá từ 24m trở lên có hành vi khai thác thủy sản không có Giấy phép, Giấy phép hết hạn hoặc cố tình xâm phạm, khai thác trái phép tại vùng biển của quốc gia hay vùng lãnh thổ khác; mức phạt tiền sẽ áp dụng từ 800 triệu đến 1 tỷ đồng, đi kèm hình thức phạt bổ sung: tịch thu hải sản, tịch thu tàu cá vi phạm, tước quyền sử dụng Giấy phép khai thác. Bên cạnh đó, nếu tàu cá từ 24m trở lên bị mất kết nối VMS trên biển mà không thực hiện báo cáo vị trí đúng quy định sẽ bị phạt từ 100 đến 300 triệu đồng; nếu vi phạm mất tín hiệu nhiều lần trong cùng một chuyến biển sẽ bị tính là tình tiết tăng nặng “vi phạm hành chính nhiều lần”.

Nghị định cũng quy định rõ ràng thời hạn bắt buộc đưa tàu về bờ đối với các tàu cá gặp sự cố mất tín hiệu VMS trên biển. Cụ thể, trong vòng 10 ngày kể từ thời điểm mất kết nối VMS, chủ tàu hoặc thuyền trưởng bắt buộc phải đưa tàu cá về bờ để khắc phục; nếu cố tình duy trì hoạt động khai thác trên biển quá thời hạn này sẽ bị xử lý nghiêm tương tự hành vi cố tình vô hiệu hóa thiết bị. Ngoài ra, hành vi gian lận như tháo gỡ, vô hiệu hóa VMS, gửi thiết bị sang tàu khác hoặc tàng trữ VMS của tàu bạn để qua mặt cơ quan chức năng, đều bị phạt tiền rất nặng, áp dụng biện pháp cưỡng chế thu hồi thiết bị ngay lập tức.

Nghị định số 246/2026/NĐ-CP của Chính phủ về quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thủy sản.

Kiểm soát toàn diện trên toàn chuỗi giá trị thủy sản

Một điểm mới rất đáng chú ý của Nghị định 246/2026/NĐ-CP là lần đầu tiên chế tài pháp lý được mở rộng sang cả các đơn vị cung cấp thiết bị VMS, dịch vụ vệ tinh. Theo đó, tại Điều 37, nhà cung cấp VMS sẽ bị phạt từ 30 đến 50 triệu đồng nếu không kẹp chì (tem niêm phong chống gian lận), kẹp chì không đúng quy định, cung cấp kẹp chì trùng mã số, lộ bí mật dữ liệu hoặc không phối hợp xử lý sự cố truyền dẫn. Tương tự, đơn vị cung cấp dịch vụ vệ tinh sẽ chịu mức phạt từ 50 đến 100 triệu đồng nếu không bảo đảm kết nối thông suốt hoặc chậm trễ khắc phục sự cố kỹ thuật, đảm bảo dữ liệu giám sát luôn liên tục, trung thực.

Không chỉ dừng lại ở khâu đánh bắt trên biển, Nghị định 246/2026/NĐ-CP còn thể hiện quan điểm quản lý toàn diện khi siết chặt kiểm soát cả hậu cần bờ và toàn bộ chuỗi cung ứng thủy sản. Tại Điều 43 và Điều 44, những doanh nghiệp thu gom, sơ chế, chế biến, mua bán thủy sản nếu không thiết lập hệ thống truy xuất nguồn gốc hoặc không lưu trữ đầy đủ hồ sơ chứng minh nguyên liệu phục vụ xuất khẩu sẽ bị phạt tiền từ 10 đến 20 triệu đồng. Nghiêm trọng hơn, hành vi thu gom, chế biến, kinh doanh thủy sản có nguồn gốc từ khai thác bất hợp pháp (IUU) sẽ bị phạt tiền lên đến 300 triệu đồng, bị tịch thu toàn bộ lô hàng, đình chỉ hoạt động cơ sở từ 1 đến 3 tháng. Đối với các hành vi gian lận xuất nhập khẩu hoặc chuyển khẩu lô hàng thủy sản IUU, doanh nghiệp có thể bị phạt tiền lên tới 1 tỷ đồng, đình chỉ hoàn toàn hoạt động xuất nhập khẩu.

Để đảm bảo Nghị định được thực thi nhanh chóng, triệt để, không có “vùng cấm”, Chương III của Nghị định quy định chi tiết thẩm quyền lập biên bản, xử phạt vi phạm hành chính cho nhiều lực lượng chức năng. Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp, lực lượng Công an nhân dân, Bộ đội Biên phòng, Cảnh sát biển, Kiểm ngư, Hải quan,… đều được phân quyền xử phạt rõ ràng, hình thành nên mạng lưới giám sát liên ngành khép kín trải dài từ đất liền, cảng cá cho đến vùng biển khơi xa.

Thời điểm mốc 18/8/2026 chính thức có hiệu lực đã đến rất gần, Tạp chí Biển Việt Nam khuyến nghị các cấp chính quyền địa phương, các Chi cục Thủy sản, Ban quản lý Cảng cá cần khẩn trương đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến sâu rộng các nội dung của Nghị định đến từng tổ đội sản xuất, từng hộ ngư dân, doanh nghiệp trên địa bàn. Qua đó, giúp người dân hiểu rõ quy định, tự giác chấp hành, cùng chung tay xây dựng một ngành thủy sản Việt Nam minh bạch, trách nhiệm, phát triển bền vững

Pv

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM