Sức mạnh bản lĩnh từ Chiến thắng trận đầu
Đầu tháng 8/1964, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước bước vào giai đoạn vô cùng quyết liệt. Trên biển, đế quốc Mỹ gia tăng các hoạt động trinh sát, khiêu khích, xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền vùng biển miền Bắc. Rạng sáng 1/8/1964, đài quan sát của Hải quân phát hiện tàu khu trục Ma-đốc (USS Maddox) xâm phạm vùng biển Quảng Bình rồi đi ngược lên phía bắc.
Chấp hành chỉ thị của Bộ Tổng Tham mưu, đêm 1/8, Sở chỉ huy Bộ Tư lệnh Hải quân lệnh cho một phân đội tàu phóng lôi cơ động đánh tàu địch. Ngày 2/8/1964, Phân đội 3, Tiểu đoàn 135 gồm các tàu 333, 336 và 339, do Trung úy Nguyễn Xuân Bột, Phân đội trưởng kiêm Thuyền trưởng Tàu 333 chỉ huy, được lệnh xuất kích.
Đây là cuộc đối đầu không cân sức khi những chiếc tàu phóng lôi có lượng giãn nước nhỏ, hỏa lực, phương tiện kỹ thuật còn hạn chế phải chiến đấu trực diện với tàu khu trục hiện đại, có pháo hạm mạnh, máy bay yểm trợ. Trong điều kiện tác chiến ban ngày, xa bờ, trên vùng biển trống trải, cán bộ, chiến sĩ Phân đội 3 vẫn kiên quyết tiến công. Các tàu cơ động với tốc độ cao, lợi dụng hướng tiếp cận, mưu trí tránh hỏa lực đối phương, áp sát để phóng ngư lôi, sử dụng hỏa lực trên tàu. Trận đánh đã buộc tàu khu trục Ma-đốc rút chạy khỏi vùng biển nước ta. Lực lượng ta bắn rơi một máy bay, bắn bị thương một chiếc khác.

Giá trị nổi bật của trận đánh ngày 2/8 không chỉ nằm ở kết quả chiến đấu, mà còn ở bản lĩnh của một lực lượng Hải quân còn non trẻ, lần đầu trực tiếp đọ sức với đối phương có ưu thế vượt trội về vũ khí, trang bị. Quyết định tiến công, áp sát mục tiêu của người chỉ huy, tinh thần hiệp đồng, quả cảm của cán bộ, chiến sĩ trên ba tàu biểu hiện sinh động cho ý chí dám đánh, biết đánh, quyết đánh thắng.
Sau trận đánh ngày 2/8, chính quyền Mỹ tiếp tục dựng lên vụ việc đêm 4/8, gọi là “Sự kiện Vịnh Bắc Bộ”, vu cáo Hải quân Việt Nam tiến công tàu chiến Mỹ trên vùng biển quốc tế để tạo cớ leo thang chiến tranh ra miền Bắc.
Ngày 5/8/1964, hơn 40 máy bay từ các tàu sân bay của Hạm đội 7 mở cuộc tập kích mang mật danh “Mũi tên xuyên”, đánh phá các căn cứ, kho tàng, khu trú đậu, lực lượng tàu thuyền Hải quân trên dải ven biển từ Quảng Bình đến Quảng Ninh. Do được chuẩn bị từ trước, các đơn vị Hải quân đã phối hợp chặt chẽ lực lượng Phòng không – Không quân, công an vũ trang, dân quân tự vệ, nhân dân các địa phương đánh trả quyết liệt. Quân, dân miền Bắc bắn rơi 8 máy bay, bắn bị thương nhiều chiếc khác, bắt sống Trung úy phi công An-vơ-rét (Everett Alvarez) – phi công Mỹ đầu tiên bị bắt trên miền Bắc. Cùng với trận đánh đuổi tàu khu trục Ma-đốc ngày 2/8, thắng lợi ngày 5/8 đã làm nên Chiến thắng trận đầu của Hải quân nhân dân Việt Nam, quân, dân miền Bắc.

Chiến thắng ngày 2 và 5/8/1964 là thắng lợi của sự lãnh đạo, chỉ đạo chủ động, kịp thời; của công tác nắm, đánh giá đúng tình hình; của tinh thần cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu cao; đồng thời cho thấy kết quả của sức mạnh hiệp đồng giữa Hải quân với các lực lượng vũ trang và nhân dân trên địa bàn ven biển.
Trong tương quan lực lượng chênh lệch, quân và dân ta đã phát huy thế trận chiến tranh nhân dân, lấy nhỏ đánh lớn, lấy ít địch nhiều, lấy chất lượng chính trị, tinh thần, trí tuệ, cách đánh phù hợp để hạn chế ưu thế vũ khí, phương tiện của đối phương. Chiến thắng khẳng định: vũ khí, trang bị tuy rất quan trọng, nhưng con người với bản lĩnh chính trị vững vàng, quyết tâm chiến đấu cao, trình độ tổ chức chỉ huy, khả năng làm chủ phương tiện mới là nhân tố quyết định.
Viết tiếp truyền thống bảo vệ chủ quyền biển, đảo
Từ thực tiễn trận đầu thử lửa, những bài học lớn được khái quát về việc luôn nêu cao cảnh giác, chủ động nắm chắc tình hình, không để bị động, bất ngờ; chuẩn bị chu đáo về tư tưởng, lực lượng, phương án và bảo đảm; phát huy vai trò của cấp ủy, người chỉ huy, đội ngũ cán bộ, đảng viên; tổ chức hiệp đồng chặt chẽ giữa các lực lượng; đồng thời linh hoạt, mưu trí, sáng tạo trong xử trí tình huống. Những bài học ấy đã được các thế hệ cán bộ, chiến sĩ Hải quân kế thừa, phát triển trong suốt quá trình xây dựng, chiến đấu, trưởng thành; góp phần làm nên truyền thống vẻ vang: “Chiến đấu anh dũng; mưu trí, sáng tạo; làm chủ vùng biển; quyết chiến, quyết thắng”.

Suốt 62 năm đã trôi qua, điều kiện, phương thức tác chiến, yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc có nhiều thay đổi. Hải quân nhân dân Việt Nam được xây dựng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; nhiều lực lượng, phương tiện, hệ thống trinh sát, ra-đa, thông tin liên lạc, trang bị kỹ thuật từng bước được đầu tư, nâng cao. Tuy nhiên, tinh thần chủ động, ý chí quyết chiến, quyết thắng, vai trò quyết định của con người vẫn là giá trị xuyên suốt.
Ở các đơn vị tàu, đảo, nhà giàn, nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu được tổ chức ngày càng sát thực tế, sát đối tượng, địa bàn, phương án tác chiến. Mỗi kíp tàu, kíp ra-đa, ca quan sát, trực chỉ huy phải duy trì nghiêm chế độ; phát hiện, nhận dạng, báo cáo và xử trí đúng quy định, đúng đối sách; không để lỡ thời cơ, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống.
Quân chủng Hải quân xác định huấn luyện chiến đấu là nhiệm vụ chính trị trung tâm trong thời bình; tập trung huấn luyện cơ bản, thiết thực, vững chắc, đồng bộ, chuyên sâu; coi trọng huấn luyện đêm, huấn luyện trong điều kiện thời tiết phức tạp, huấn luyện trong quá trình thực hiện nhiệm vụ trên biển. Cùng với rèn luyện kỹ thuật, chiến thuật, các đơn vị chú trọng xây dựng bản lĩnh chính trị, ý thức tổ chức kỷ luật, năng lực chỉ huy, hiệp đồng và khả năng làm chủ vũ khí, trang bị kỹ thuật hiện đại.

Phát huy truyền thống Chiến thắng trận đầu còn được thể hiện ở tinh thần chủ động nghiên cứu, dự báo đúng tình hình; kịp thời tham mưu với Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng về chủ trương, đối sách xử lý các vấn đề trên biển; phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ với các lực lượng, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân trên biển vững chắc.
Đối với mỗi cán bộ, chiến sĩ Hải quân hôm nay, truyền thống không chỉ là những trang sử được nhắc lại nhân ngày kỷ niệm, mà phải được chuyển hóa thành trách nhiệm trong từng ca trực, từng chuyến tuần tra, từng lần luyện tập phương án; thành sự chính xác trong thao tác, sự bình tĩnh trong xử trí, tinh thần sẵn sàng nhận nhiệm vụ ở nơi khó khăn, gian khổ. Mỗi chuyến tàu rời quân cảng hôm nay không chỉ mang theo vũ khí, trang bị và nhiệm vụ được giao, mà còn mang theo niềm tự hào, trách nhiệm và ý chí được trao truyền từ trận đầu đánh thắng năm 1964.

Đó chính là điểm tựa tinh thần để các thế hệ cán bộ, chiến sĩ Hải quân tiếp tục rèn luyện, làm chủ khoa học, công nghệ và trang bị kỹ thuật hiện đại; sẵn sàng chiến đấu, hy sinh, hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ, xứng đáng là lực lượng nòng cốt bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc.