Phát triển nguồn nhân lực khoa học quân sự chất lượng cao đáp ứng yêu cầu xây dựng Hải quân nhân dân Việt Nam trong tình hình mới

Từ khóa: Nguồn nhân lực khoa học quân sự chất lượng cao; Hải quân nhân dân Việt Nam; Tư tưởng Hồ Chí Minh; Chỉ thị 07-CT/TW; Bảo vệ chủ quyền biển, đảo; Kỷ nguyên số.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn khẳng định vai trò quyết định của nhân tố con người: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, “Huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng”. Đối với lực lượng Hải quân, khi về thăm cán bộ, chiến sĩ, Bác đã ân cần dặn dò: “Ngày trước ta chỉ có đêm và rừng. Ngày nay ta có ngày, có trời, có biển. Bờ biển ta dài, tươi đẹp, ta phải biết giữ gìn lấy nó”. Thấm nhuần sâu sắc lời dạy của Bác, trong suốt tiến trình lịch sử dựng nước và giữ nước, biển, đảo luôn giữ vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng cả về kinh tế, chính trị, quốc phòng và an ninh.
Bước vào kỷ nguyên số với sự bùng nổ của Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, không gian biển không còn đơn thuần là môi trường giao thương truyền thống mà đã trở thành vùng không gian tác chiến đa miền, tích hợp công nghệ cao và vô cùng phức tạp. Quán triệt sâu sắc tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá giáo dục và đào tạo trong kỷ nguyên số, Nghị quyết số 290-NQ/QUTW của Quân ủy Trung ương, đặc biệt là việc triển khai sâu rộng Chỉ thị số 07-CT/TW của Bộ Chính trị về “Đẩy mạnh học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh trong giai đoạn phát triển mới”, Quân chủng Hải quân đang đẩy mạnh tiến trình xây dựng lực lượng tiến thẳng lên hiện đại, làm nòng cốt trong sự nghiệp bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc.
Thực tiễn lịch sử quân sự đã chứng minh, vũ khí trang bị kỹ thuật dù hiện đại đến đâu cũng chỉ phát huy hiệu quả khi được vận hành, quản lý và sáng tạo bởi nhân tố con người. Trong đó, nguồn nhân lực khoa học quân sự chất lượng cao giữ vai trò là “chìa khóa vàng”, là động lực nội sinh quyết định tốc độ và tính bền vững của tiến trình hiện đại hóa. Do đó, việc nghiên cứu toàn diện lý luận, đánh giá đúng thực trạng và đề xuất hệ thống giải pháp khả thi để phát triển nguồn nhân lực khoa học quân sự chất lượng cao Hải quân vừa là nhiệm vụ chuyên môn cấp thiết, vừa là sự cụ thể hóa tinh thần Chỉ thị 07-CT/TW vào thực tiễn xây dựng Quân chủng trong tình hình mới. 
2. VỊ TRÍ, VAI TRÒ, YÊU CẦU VÀ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC KHOA HỌC QUÂN SỰ CHẤT LƯỢNG CAO HẢI QUÂN
2.1. Vị trí và vai trò của nguồn nhân lực khoa học quân sự chất lượng cao Hải quân
Nguồn nhân lực khoa học quân sự chất lượng cao Hải quân là bộ phận ưu tú nhất trong đội ngũ cán bộ của Quân chủng Hải quân, bao gồm các sĩ quan, cán bộ nghiên cứu, giảng viên, kỹ sư đầu ngành có trình độ chuyên môn từ sau đại học, sở hữu tư duy khoa học độc lập, sáng tạo, đạt trình độ làm chủ và sáng tạo công nghệ quân sự tiên tiến. Đội ngũ này có khả năng trực tiếp giải quyết các “bài toán” phức tạp về lý luận và thực tiễn tác chiến Hải quân, nghiên cứu khai thác, cải tiến, phát triển vũ khí trang bị kỹ thuật hiện đại, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo trong mọi tình huống.
Lực lượng này giữ vị trí then chốt, là hạt nhân quy định năng lực tác chiến hiện đại của Quân chủng Hải quân. Trước hết, nguồn nhân lực khoa học quân sự chất lượng cao là lực lượng nòng cốt trong việc tiếp thu, làm chủ và phát huy tối đa hiệu suất tính năng kỹ – chiến thuật của các hệ thống vũ khí, khí tài thế hệ mới như tàu ngầm, tàu hộ vệ tên lửa, tên lửa bờ, không quân hải quân và khí tài ngầm. Bên cạnh đó, họ đóng vai trò là động lực thúc đẩy sự phát triển của nghệ thuật quân sự Hải quân Việt Nam thông qua việc tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận tác chiến biển, đảo hiện đại. Đồng thời, đây cũng là chủ thể trực tiếp tham gia đổi mới nội dung, phương pháp giáo dục – đào tạo tại Học viện Hải quân và các trung tâm nghiên cứu, tạo nên cầu nối gắn kết chặt chẽ giữa nhà trường với đơn vị thực thi chiến đấu. Trong kỷ nguyên số, nguồn nhân lực này còn là hạt nhân dẫn dắt quá trình chuyển đổi số, ứng dụng trí tuệ nhân tạo và bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng và hướng biển.
2.2. Yêu cầu phát triển nguồn nhân lực khoa học quân sự chất lượng cao Hải quân
Để xây dựng Hải quân nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, công tác phát triển nguồn nhân lực khoa học quân sự chất lượng cao đặt ra những yêu cầu toàn diện và nghiêm ngặt cả về phẩm chất lẫn năng lực chuyên môn.
Về bản lĩnh chính trị và đạo đức cách mạng: Đòi hỏi cán bộ phải lấy tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh làm kim chỉ nam; tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc và Nhân dân, giữ vững phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ – Người chiến sĩ Hải quân” thời kỳ mới. Bác từng nhấn mạnh: “Cũng như sông có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cán bộ phải lấy đạo đức cách mạng làm gốc”. Trong giai đoạn mới, bản lĩnh ấy phải được thể hiện ở sự kiên định, không dao động trước khó khăn, thử thách và những đợt sóng gió nơi biển xa.
Về năng lực khoa học và phong cách làm việc: Phải thấm nhuần phong cách làm việc khoa học, sâu sát, đổi mới sáng tạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đội ngũ cán bộ phải bứt phá làm chủ công nghệ lõi, tiếp cận và ứng dụng thành thạo các thành tựu của Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư như trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data), thiết bị tự hành không người lái và công nghệ mô phỏng tác chiến vào thực tiễn huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu.
Về phương pháp và mô hình gắn kết: Vận dụng phương pháp luận Hồ Chí Minh về “Lý luận liên hệ với thực tiễn”, quá trình đào tạo và phát triển phải bảo đảm tính gắn kết chặt chẽ theo mô hình “Nhà trường – Viện nghiên cứu – Đơn vị thực địa”, giải quyết triệt để sự lệch pha giữa lý thuyết giáo dục với bài toán thực tiễn tác chiến trên biển. Yêu cầu này đòi hỏi phải xóa bỏ mô hình quản lý hành chính hóa, chuyển sang mô hình quản trị hiện đại, tôn trọng tri thức và tạo môi trường cởi mở cho phản biện khoa học.
2.3. Thực trạng phát triển nguồn nhân lực khoa học quân sự chất lượng cao Hải quân
Trong những năm qua, công tác phát triển nguồn nhân lực khoa học quân sự chất lượng cao Hải quân đã đạt được những kết quả quan trọng. Các cấp ủy, chỉ huy trong toàn Quân chủng đã quán triệt và thực hiện nghiêm túc các nghị quyết, chỉ thị của cấp trên, trọng tâm là Nghị quyết 1657-NQ/QUTW, Chỉ thị 506-CT/ĐU và Chỉ thị số 05-CT/TW.
Công tác quy hoạch, tạo nguồn và gửi cán bộ đi đào tạo ở trong và ngoài nước được triển khai bài bản, tỷ lệ cán bộ có trình độ Thạc sĩ, Tiến sĩ tăng bền vững qua các năm. Đội ngũ cán bộ khoa học trẻ thể hiện khát vọng cống hiến cao, tích cực học tập và làm theo Bác, chủ động làm chủ các trang bị kỹ thuật hiện đại. Nhiều công trình nghiên cứu khoa học, giải pháp cải tiến kỹ thuật đã được đưa vào ứng dụng thực tiễn, góp phần nâng cao khả năng sẵn sàng chiến đấu và tiết kiệm đáng kể ngân sách quốc phòng.
Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm, thực trạng phát triển nguồn nhân lực khoa học quân sự chất lượng cao Hải quân vẫn còn những hạn chế bất cập. Tình trạng hẫng hụt thế hệ chuyên gia đầu ngành vẫn tồn tại ở một số lĩnh vực công nghệ mũi nhọn như tác chiến không gian mạng, trí tuệ nhân tạo, khí tài ngầm và tác chiến điện tử. Hạ tầng phục vụ nghiên cứu, hệ thống phòng thí nghiệm trọng điểm và trung tâm mô phỏng tác chiến chưa đồng bộ, chưa theo kịp tốc độ phát triển của khoa học quân sự thế giới. Ngoài ra, cơ chế quản lý khoa học còn nặng về thủ tục hành chính, chính sách đãi ngộ về thu nhập, nhà ở và điều kiện làm việc chưa thực sự tạo được động lực đột phá để thu hút và giữ chân nhân tài.
Những hạn chế nêu trên xuất phát từ cả nguyên nhân khách quan và chủ quan. Về khách quan, môi trường hoạt động quân sự Hải quân mang tính đặc thù cao, gian khổ, xa đất liền, chịu tác động từ sự cạnh tranh nguồn nhân lực công nghệ cao từ khu vực tư nhân. Mặt chủ quan, nhận thức của một số cấp ủy về vị trí chiến lược của công tác quản trị tài năng chưa thật sự đột phá; việc cụ thể hóa Chỉ thị 05-CT/TW vào tiêu chí đánh giá cán bộ khoa học đôi lúc còn hình thức; sự phối hợp giữa Học viện Hải quân, các viện nghiên cứu và đơn vị thực địa chưa tạo thành hệ sinh thái khép kín và thông suốt. 
3. GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC KHOA HỌC QUÂN SỰ CHẤT LƯỢNG CAO HẢI QUÂN TRONG TÌNH HÌNH MỚI
3.1. Đổi mới tư duy, nâng cao năng lực lãnh đạo và chuyển đổi mô hình quản trị nhân lực khoa học
Đây là giải pháp giữ vai trò mở đường, có ý nghĩa quyết định nhằm tạo định hướng tư duy, cơ sở lý luận và hành lang pháp lý vững chắc cho toàn bộ quá trình phát triển nguồn nhân lực khoa học quân sự chất lượng cao Hải quân. Giải pháp này đóng vai trò hạt nhân nhằm giải phóng tiềm năng sáng tạo, tháo gỡ các “nút thắt” về cơ chế và tạo động lực nội sinh cho đội ngũ cán bộ khoa học.
Nội dung cốt lõi là đẩy mạnh thực hành tư tưởng, phong cách Hồ Chí Minh về “trọng dụng nhân tài” theo tinh thần Chỉ thị số 07-CT/TW; thực hiện chuyển đổi mạnh mẽ từ mô hình quản lý hành chính thuần túy sang mô hình quản trị tài năng hiện đại dựa trên mục tiêu và hiệu quả đầu ra. Trọng tâm là thể chế hóa, cụ thể hóa các quyết nghị của Đảng (Đại hội XIV, Nghị quyết 71-NQ/TW, Nghị quyết 290-NQ/QUTW) và Chỉ thị 07-CT/TW vào thực tiễn quản trị của Quân chủng; xóa bỏ tư duy bao cấp, mở rộng quyền tự chủ chuyên môn cho các chủ nhiệm đề tài và các nhóm nghiên cứu mạnh.
Cấp ủy, chỉ huy các cấp cần tập trung ban hành quy chế quản lý khoa học mới theo hướng tối giản hóa quy trình, thủ tục hành chính trong phê duyệt, cấp phát ngân sách và nghiệm thu đề tài. Tăng cường phân cấp, phân quyền chuyên môn đi đôi với kiểm tra, giám sát dựa trên sản phẩm ứng dụng thực tế trên chiến trường biển. Đưa chỉ tiêu phát triển đội ngũ cán bộ khoa học và hiệu quả ứng dụng các công trình nghiên cứu thành tiêu chí cốt lõi để đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ định kỳ của cán bộ chủ trì các đơn vị.
3.2. Đột phá đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp đào tạo tại Học viện Hải quân
Thực hiện lời dạy của Bác: “Học để làm việc, làm người, làm cán bộ. Học để phụng sự Tổ quốc, phụng sự Nhân dân” và phương pháp giáo dục Hồ Chí Minh ‘Học đi đôi với hành’, giải pháp này giữ vai trò cội nguồn nhằm nâng cao chất lượng ‘đầu vào’ và năng lực thực chất của đội ngũ cán bộ khoa học
Gắn kết chặt chẽ việc triển khai Chỉ thị 07-CT/TW với đổi mới giáo dục – đào tạo, Học viện Hải quân cần tái cấu trúc toàn diện chương trình đào tạo tại Học viện Hải quân theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa và tiệm cận trình độ kỷ nguyên số. Tăng cường tỷ trọng huấn luyện thực hành, tác chiến mô phỏng và trải nghiệm chiến trường thực tế. Đẩy mạnh mô hình “đào tạo thông qua thực tiễn và nghiên cứu”, đưa người học vào vị trí chủ thể giải quyết các bài toán kỹ – chiến thuật thực tế phát sinh trên các vùng biển trọng điểm.
Học viện Hải quân cần chủ động rà soát, cập nhật giáo trình đào tạo, tích hợp các tri thức mới về AI, Big Data, vũ khí tự hành và tác chiến đa miền vào giảng dạy. Xây dựng cơ chế luân chuyển cán bộ, giảng viên ra thực tế tại các đơn vị chiến đấu ở các vùng Hải quân và ngược lại. Mở rộng các chương trình liên kết đào tạo, hợp tác nghiên cứu với các đại học, viện nghiên cứu lớn ngoài Quân đội và gửi các cán bộ trẻ xuất sắc đi đào tạo chuyên sâu tại các trung tâm khoa học quân sự uy tín trên thế giới.
3.3. Quy hoạch, định danh và chuẩn hóa đội ngũ chuyên gia đầu ngành mũi nhọn
Giải pháp này mang tính căn cơ, chiến lược, giúp khắc phục tình trạng hẫng hụt lực lượng và bảo đảm tính kế thừa liên tục của dòng chảy tài năng trong Quân chủng.
Cần xây dựng hệ thống tiêu chí định danh cán bộ khoa học quân sự chất lượng cao rõ ràng, minh bạch cho từng chuyên ngành mũi nhọn như tàu ngầm, tên lửa, tự động hóa, tác chiến điện tử và công nghệ thông tin. Thực hiện quy hoạch “Dòng chảy tài năng” xuyên suốt từ khâu phát hiện, đào tạo, sử dụng đến đãi ngộ, bảo đảm có sẵn lực lượng kế cận cho các vị trí chuyên gia đầu ngành.
Xây dựng ngân hàng dữ liệu nhân tài khoa học Hải quân để theo dõi, đánh giá sự phát triển năng lực của từng cán bộ. Chủ động phát hiện những học viên, sĩ quan trẻ có tố chất nghiên cứu ngay từ khi còn học tập tại nhà trường để đưa vào lộ trình bồi dưỡng đặc biệt. Đánh giá năng lực chuyên gia dựa trên sản phẩm khoa học công bố, bằng sáng chế và hiệu quả ứng dụng thực tiễn, không thuần túy dựa vào thâm niên hay chức vụ quản lý.
3.4. Đầu tư hiện đại hóa hạ tầng nghiên cứu và xây dựng môi trường văn hóa khoa học dân chủ
Giải pháp này đóng vai trò bệ đỡ vật chất và môi trường tinh thần, tạo điều kiện thuận lợi để cán bộ khoa học giải phóng năng lực sáng tạo. Bác Hồ từng căn dặn: “Phải thật sự mở rộng dân chủ để phát huy trí tuệ tập thể”.
Trọng tâm là nâng cấp đồng bộ hạ tầng cơ sở vật chất, trang thiết bị nghiên cứu hiện đại; đồng thời kiến tạo môi trường văn hóa khoa học cởi mở, dân chủ, khuyến khích tư duy phản biện, tôn trọng sự khác biệt và chấp nhận rủi ro trong nghiên cứu khoa học công nghệ tiên tiến.
Tập trung nguồn lực đầu tư xây dựng các phòng thí nghiệm trọng điểm, trung tâm mô phỏng tác chiến số và hệ thống xử lý dữ liệu biển hiện đại tại Học viện Hải quân và các viện nghiên cứu. Định kỳ tổ chức các diễn đàn, hội thảo khoa học chuyên sâu để cán bộ khoa học trao đổi, tranh luận tự do về các bài toán quân sự phức tạp. Kịp thời tôn vinh, trao giải thưởng khoa học cho các tập thể, cá nhân sở hữu công trình có giá trị đột phá.
3.5. Bổ sung, hoàn thiện cơ chế, chính sách đãi ngộ đặc thù với cán bộ khoa học
Giải pháp này tạo động lực thiết thân, giữ vai trò đòn bẩy kinh tế – xã hội nhằm thu hút, giữ chân và kích thích tinh thần tận hiến của đội ngũ cán bộ khoa học quân sự chất lượng cao.
Xây dựng và hoàn thiện hệ thống cơ chế, chính sách đãi ngộ toàn diện, kết hợp hài hòa giữa lợi ích vật chất, điều kiện sinh hoạt và danh dự tinh thần cho lực lượng chuyên gia, cán bộ khoa học Hải quân.
Đề xuất Bộ Quốc phòng và Nhà nước ban hành cơ chế trả lương, phụ cấp thâm niên nghề nghiệp và ưu đãi nhà ở đặc thù cho cán bộ khoa học quân sự chất lượng cao làm việc tại các vùng biển, đảo. Thành lập Quỹ hỗ trợ phát triển khoa học nội bộ của Quân chủng Hải quân từ các nguồn lực hợp pháp để tái đầu tư cho các đề tài xuất sắc và thưởng trực tiếp cho tác giả của các cải tiến kỹ thuật có giá trị kinh tế – quân sự cao. Tôn vinh vị thế xã hội của các nhà khoa học quân sự, tạo dựng niềm tự hào và sự an tâm công tác lâu dài trong Quân chủng. 
4. KẾT LUẬN
Phát triển nguồn nhân lực khoa học quân sự chất lượng cao là quyết sách chiến lược, mang tính đột phá nhằm nâng cao sức mạnh tổng hợp và khả năng sẵn sàng chiến đấu của Hải quân nhân dân Việt Nam. Đứng trước những diễn biến phức tạp trên biển và yêu cầu bứt phá của kỷ nguyên số, việc thấu suốt tư tưởng Hồ Chí Minh, thực hiện nghiêm túc Chỉ thị số 07-CT/TW của Bộ Chính trị cùng hệ thống giải pháp đồng bộ sẽ tạo ra bước chuyển căn bản về chất cho đội ngũ cán bộ khoa học Hải quân. Đây chính là điểm tựa tri thức và nhân tố cốt lõi để Hải quân nhân dân Việt Nam tiến thẳng lên hiện đại, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ làm nòng cốt bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc trong tình hình mới.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ Chính trị (2026), Chỉ thị số 07-CT/TW về Đẩy mạnh học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh trong giai đoạn phát triển mới, Hà Nội.
2. Bộ Quốc phòng (2025), Chiến lược phát triển khoa học, công nghệ và môi trường quân sự đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, Hà Nội.
3. Đảng Cộng sản Việt Nam (2025), Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo trong kỷ nguyên số, Hà Nội.
4. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Tập 1, 2, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
5. Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Tập 5, 12, 13, 15, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
6. Quân ủy Trung ương (2026), Nghị quyết số 290-NQ/QUTW ngày 18/01/2026 về đổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực quân sự đáp ứng yêu cầu hiện đại hóa Quân đội trong tình hình mới, Hà Nội.
7. Đảng ủy Quân chủng Hải quân (2025), Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân chủng Hải quân lần thứ XIV (nhiệm kỳ 2025-2030), Hải Phòng.
8. Đảng ủy Quân chủng Hải quân (2025), Chỉ thị số 506-CT/ĐU ngày 17/11/2025 về lãnh đạo công tác cán bộ đến năm 2030 và những năm tiếp theo, Hải Phòng.
9. Đảng ủy Quân chủng Hải quân (2026), Nghị quyết số 942-NQ/ĐU ngày 11/3/2026 về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo trong Quân chủng, Hải Phòng