Tái cơ cấu dòng vốn tín dụng kinh tế biển dưới lăng kính Quyết định 1941

Tạp chí Biển Việt Nam - Việc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) ban hành Quyết định số 1941/QĐ-NHNN ngày 26/8/2026 nhằm cụ thể hóa Kế hoạch hành động thực hiện Nghị quyết 218/NQ-CP đang đặt ra những yêu cầu mới đối với sự dịch chuyển dòng vốn tín dụng. Trong đó, trọng tâm không chỉ nằm ở việc mở rộng quy mô cho vay, mà là bài toán tái cấu trúc danh mục và phương thức quản trị rủi ro đối với các ngành kinh tế biển.

Từ chủ trương chiến lược đến hành động của ngành Ngân hàng

Để hiểu vì sao Quyết định 1941/QĐ-NHNN được kỳ vọng là bước ngoặt đối với dòng vốn, cần nhìn nhận văn bản này trong một chuỗi mắt xích chính sách xuyên suốt. Cụ thể, đây là Kế hoạch hành động của ngành Ngân hàng nhằm triển khai Nghị quyết 218/NQ-CP của Chính phủ, bám sát mục tiêu cốt lõi của Nghị quyết số 20-NQ/TW về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh.

Điểm khác biệt của Quyết định 1941 nằm ở chỗ nó không dừng lại ở những khẩu hiệu hay định hướng vĩ mô. Quyết định này đóng vai trò như một “bản vẽ kỹ thuật” buộc hệ thống ngân hàng phải tái cấu trúc công cụ tài chính, chuyển từ việc hỗ trợ manh mún, nhỏ lẻ sang tập trung khơi thông nguồn lực cho các không gian kinh tế biển thế hệ mới.

Thực tiễn phân bổ vốn tín dụng đối với khu vực kinh tế biển thời gian qua chủ yếu bám sát hoạt động truyền thống như khai thác thủy sản gần bờ, đóng tàu hoặc thương mại ven biển. Tuy nhiên, định hướng tại Quyết định 1941/QĐ-NHNN phản ánh một sự điều chỉnh đáng kể trong tư duy phân bổ nguồn lực, hướng dòng vốn vào các lĩnh vực có suất đầu tư lớn, hàm lượng công nghệ cao.

Quyết định 1941/QĐ-NHNN do Ngân hàng Nhà nước ban hành ngày 26/8/2026

Danh mục ưu tiên hiện được mở rộng sang năng lượng tái tạo ngoài khơi (như điện gió), hạ tầng logistics cảng biển, công nghiệp ven biển, nuôi biển công nghiệp công nghệ cao, cùng hệ thống dầu khí, dịch vụ biển mới. Giới phân tích tài chính đánh giá rằng các lĩnh vực này có đặc thù riêng biệt: thời gian hoàn vốn kéo dài, nhu cầu vốn đầu tư ban đầu lớn và đối mặt với rủi ro vận hành phức tạp trên biển. Do đó, phương thức cấp tín dụng truyền thống – vốn phụ thuộc nặng nề vào tài sản bảo đảm, sẽ khó đáp ứng thực tế.

Từ góc độ chuyên môn, nhiều ý kiến cho rằng những tổ chức tín dụng buộc phải chuyển đổi mô hình đánh giá từ việc dựa vào tài sản thế chấp sang thẩm định dựa trên dòng tiền dự án, phương án kinh doanh và khả năng liên kết trong chuỗi giá trị. Đối với các dự án hạ tầng hoặc năng lượng quy mô lớn, việc áp dụng cơ chế đồng tài trợ và phối hợp giữa các định chế tài chínhlà điều kiện cần để phân tán rủi ro.

Tác động đối với doanh nghiệp, ngư dân, chủ thể trong hệ sinh thái kinh tế biển

Kế hoạch hành động mới phác thảo những hướng tiếp cận khác nhau đối với từng nhóm đối tượng. Cụ thể:

(1) Đối với khu vực nuôi trồng và ngư dân, về mặt chính sách, hệ thống tín dụng tiếp tục lồng ghép qua các chương trình phục vụ nông nghiệp, nông thôn nhằm hỗ trợ ngư dân, hợp tác xã, doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn cho mô hình nuôi biển xa bờ ứng dụng công nghệ cao. Song song với đó, Ngân hàng Chính sách xã hội duy trì chương trình tín dụng ưu đãi giai đoạn 2026 – 2030 dành cho hộ nghèo, đối tượng chính sách tại vùng biển, đảo, khu vực khó khăn nhằm duy trì sinh kế cơ bản. (2) Về phía doanh nghiệp đầu tư hạ tầng và công nghiệp, thách thức đặt ra cho các tổ chức tín dụng là phải nghiên cứu thiết kế các sản phẩm tín dụng chuyên biệt, đồng thời cải tiến quy trình thẩm định phù hợp với chu kỳ kinh doanh đặc thù của ngành kinh tế biển mới.

Nghị quyết số 20-NQ/TW, hệ thống ngân hàng đang tái cấu trúc công cụ tài chính, chuyển từ việc hỗ trợ manh mún, nhỏ lẻ sang tập trung khơi thông nguồn lực cho các không gian kinh tế biển

Bên cạnh tín dụng thương mại, Quyết định 1941/QĐ-NHNN cũng nhấn mạnh đến việc phát triển hệ sinh thái dịch vụ ngân hàng tại các khu kinh tế đặc biệt, khu thương mại tự do, khu đô thị biển. Việc đẩy mạnh thanh toán không dùng tiền mặt, số hóa dịch vụ tài chính tại các địa bàn ven biển, cảng cá không chỉ nhằm mục đích mở rộng mạng lưới, mà còn tạo lập cơ sở dữ liệu về dòng tiền. Dữ liệu giao dịch này đóng vai trò quan trọng trong việc giúp ngân hàng giảm thiểu thông tin bất cân xứng, cải thiện năng lực thẩm định tín dụng giữa bối cảnh hoạt động kinh tế diễn ra trên không gian rộng, phân tán.

Tuy nhiên, rủi ro lớn nhất trong tín dụng kinh tế biển vẫn nằm ở các yếu tố ngoại cảnh như biến đổi khí hậu, thiên tai, những bất định về khung pháp lý liên quan đến tài sản, quyền khai thác trên biển. Nếu các rủi ro này tập trung hoàn toàn vào bảng cân đối kế toán của các ngân hàng thương mại, dư địa mở rộng tín dụng sẽ bị thu hẹp. Do đó, hiệu quả thực thi của kế hoạch hành động sẽ phụ thuộc lớn vào việc đồng bộ hóa các công cụ hỗ trợ khác như cơ chế bảo hiểm rủi ro, bảo lãnh tín dụng, cũng như sự kết nối các nguồn tài chính xanh, nguồn lực quốc tế.

 

Huỳnh Kha

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM
document.addEventListener("DOMContentLoaded", function () { const audio = document.getElementById("articleAudio"); const button = document.getElementById("mobileAudioButton"); if (!audio || !button) { return; } button.addEventListener("click", function () { if (audio.paused) { audio.play().then(function () { button.classList.add("playing"); button.querySelector("span").textContent = "⏸️"; button.setAttribute( "aria-label", "Tạm dừng audio" ); }).catch(function (error) { console.log("Không thể phát audio:", error); }); } else { audio.pause(); button.classList.remove("playing"); button.querySelector("span").textContent = "🔊"; button.setAttribute( "aria-label", "Phát audio" ); } }); /* Khi audio phát hết */ audio.addEventListener("ended", function () { button.classList.remove("playing"); button.querySelector("span").textContent = "🔊"; button.setAttribute( "aria-label", "Phát audio" ); }); });